Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện lạ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện lạ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 2 tháng 6, 2017

Vì sao gần một nửa người Việt Nam mang họ Nguyễn ?

Chắc hẳn ai cũng từng nghe hoặc từng quen biết một người họ Nguyễn. Trên trường quốc tế, đó là một dấu hiệu nhận diện người gốc Việt. Nhưng tại sao gần 40% người Việt lại có chung một họ Nguyễn này? 
Nguyễn Trãi 
Chuyên đề Lịch sử Việt Nam
Nếu căn cứ theo tỉ lệ này, cứ ba người dân Việt Nam có ít nhất một người mang họ Nguyễn. Những người mang họ Nguyễn trên toàn thế giới có khoảng 90 triệu người, tức là nhiều thứ ba sau họ Lý và họ Trương của Trung Quốc. 
Cấu tạo tên họ của người Việt khác với người Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Tên họ người Việt Nam phân thành 3 phần: Họ – tên đệm – tên. Ở những trường hợp chính thức, thông thường người ta chỉ gọi tên. Tên người thường là ba chữ hoặc bốn chữ, cũng có khi là 2 chữ (ví dụ Nguyễn Trãi). 
Vậy thì tại sao họ Nguyễn lại trở thành dòng họ lớn nhất và đông nhất ở Việt Nam? Có rất nhiều nguyên nhân lịch sử cho hiện tượng này. 
Thời cổ đại 
Vào thời Nam Bắc triều (420 – 589) Trung Hoa thiên hạ đại loạn. Vì để lánh nạn mưu sinh, một bộ phận gia tộc họ Nguyễn sống tại An Huy, Chiết Giang, Hồ Bắc… di cư sang Việt Nam. 
Bộ phận người này sinh sống ở Việt Nam, qua thời gian đã đồng hoá cùng dân bản địa để tạo nên thêm một bộ phận đáng kể người Việt có họ Nguyễn. Sau đó vào thời Ngũ Đại (5 triều đại nối nhau cai trị Trung Nguyên: Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu 907-960), dần dần lại có nhiều người họ Nguyễn di chuyển về phía Nam, bổ sung thêm vào số lượng người họ Nguyễn bản địa ở Việt Nam. 
Sự phát triển của dòng họ lớn nhất Việt Nam cũng gắn liền quan hệ với triều đại nhà Trần. Trước triều Trần là giai đoạn trị vì của nhà Lý (1009 – 1225). Từ khi Lý Công Uẩn lên ngôi năm 1009 sau khi giành được quyền lực từ tay nhà Tiền Lê đến khi Lý Chiêu Hoàng bị ép thoái vị để nhường ngôi cho Trần Cảnh, tổng cộng là 216 năm. 
Những năm đầu tiên, Trần Cảnh còn nhỏ tuổi, toàn bộ quyền hành của nhà Trần đều do một tôn thất vai chú của Trần Cảnh là Trần Thủ Độ nắm quyền. Trong thời gian này, Trần Thủ Độ đã làm một việc trực tiếp ảnh hưởng tới tên họ của người Việt. 
Đó là việc gì? Ðời Trần Thái Tông (1232), sau khi đã đoạt ngôi nhà Lý, Trần Thủ Ðộ lấy lý do tổ nhà Trần tên Lý, đã bắt tất cả những người họ Lý là họ dòng vua vừa bị hoán vị còn trốn lẩn trong dân gian phải đổi thành họ Nguyễn. 
Tuy nhiên ý đồ thật sự của Trần Thủ Độ là khai tử dòng vua Lý để không còn ai nhớ đến họ Lý nữa. Còn lý do vì sao khi đó ông lại lựa chọn họ Nguyễn để thay họ Lý, cho tới nay vẫn chưa được lý giải rõ, cũng có thể đó là lựa chọn một cách ngẫu nhiên. 
Tuy nhiên trong sử sách chỉ ghi chép lại đơn giản như sau: “Sau khi nhà Trần nắm giữ quyền lực, tất cả những người mang họ Lý trong đất nước đều phải đổi sang họ Nguyễn”. 
Có một điều càng không thể tưởng tượng được, đó là đổi họ đã trở thành một tục lệ của người Việt Nam thời cổ đại. Cứ mỗi khi một triều đại mới được thay thế thì tất cả những người mang họ của triều đại trước sẽ phải sửa thành họ Nguyễn. Trong lịch sử Việt Nam, đã từng có nhiều sự kiện như vậy khiến số người mang họ Nguyễn đã nhiều lại càng nhiều hơn. 
Năm 1232, nhà Lý suy vong, Trần Thủ Độ đã bắt con cháu của dòng họ Lý chuyển sang họ Nguyễn. Khi Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần, ông ấy đã giết hại rất nhiều con cháu họ Trần. Vì thế, sau khi nhà Hồ sụp đổ, con cháu của họ Hồ vì sợ trả thù nên tất cả đã đổi sang họ Nguyễn. 
Năm 1592, nhà Mạc suy tàn, con cháu của dòng họ Mạc cũng lại đổi họ sang Nguyễn. Khi triều đại nhà Nguyễn nắm quyền năm 1802, một số con cháu họ Trịnh cũng vì sợ trả thù nên lần lượt đổi hết họ sang Nguyễn, số còn lại trốn lên Bắc sang Trung Quốc. 
Triều đại nhà Nguyễn
Trong luật pháp của nhà Nguyễn, những người mang họ Nguyễn được hưởng nhiều đặc lợi, được triều đình ban thưởng. Vì thế các tội nhân cũng theo đó đổi họ sang Nguyễn nhằm tránh bị bắt tội, hưởng thêm ân sủng. Cùng theo sự thay đổi của các triều đại những người mang họ Nguyễn càng ngày càng đông lên, cuối cùng lập ra triều Nguyễn. Triều Nguyễn cũng là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. 
Biểu đồ các họ phổ biến nhất Việt Nam. (Ảnh: Twitter)
Thời cận đại  
Trước khi đề cập tới quãng thời gian này, cần nhấn mạnh một đặc điểm của các dòng họ Việt Nam thời cổ đại. Vào thời cổ đại, dân chúng ở tầng lớp thấp bình dân thường không mang họ, chỉ có các  vương tôn quý tộc mới có họ. 
Vào thế kỷ 19, khi Việt Nam trở thành thuộc địa của người Pháp, lần đầu tiên người Pháp có cuộc điều tra về dân số với quy mô lớn nhất trên khắp Việt Nam. 
Trong quá trình điều tra họ gặp phải một vấn đề phiền phức lớn, đó là: Đại bộ phận người dân ở tầng lớp thấp bình dân đều không có họ, nên không có cách nào để thống kê tổng kết. 
Vào lúc này phải làm như thế nào? Người Pháp liền nghĩ ra một cách, trước đây triều Nguyễn chẳng phải là triều đại cuối cùng của người Việt sao, vậy những người không mang họ đó để họ đều mang họ Nguyễn. Dòng họ này, bởi thế lại được mở rộng với quy mô lớn chưa từng có thêm một lần nữa. 
Chân dung Vua Bảo Đại (tên thật là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy), vị Vua cuối cùng của nhà Nguyễn. (Ảnh: Wikipedia)
Kỳ thực cho dù không có người Pháp, họ Nguyễn vẫn là một dòng họ lớn nhất Việt Nam, tuy nhiên để chiếm một tỉ lệ lớn 40% như vậy, không thể không kể tới tác động của người Pháp. 
Bây giờ, khi ra đường, bất kể gặp một người họ Nguyễn nào, bạn hãy nói rằng họ đang có một tên họ đặc biệt nhất Việt Nam. Còn nếu đang mang họ Nguyễn, có lẽ bạn nên đọc bài viết này.
Kiên Định 

Thứ Năm, 9 tháng 2, 2012

Năm Thìn nói chuyện Rồng

Rồng là  loài vật xuất hiện trong thần thoại phương Đông và phương Tây, hình ảnh loài rồng được biểu thị cho loài linh vật huyền thoại có sức mạnh phi thường. Rồng ở các nước châu Á có nhiều khác biệt với rồng ở các nướcchâu Âu và châu Mỹ .Tại một số nước châu Á, rồng có mình rắn vảy cá bờm sư tử sừng hươu và biết bay. Đa số các nước châu Á coi rồng là con vật linh thiêng trong khi các nước châu Âu lại coi rồng là biểu tượng của cái ác và sự hung dữ.
Rồng có tồn tại thật hay không, vẫn còn nhiều tranh cãi, để có thêm cái nhìn về vấn đề này tôi xin post ra đây một tài liệu lượm được trong lúc lang thang tìm dữ liệu :
(Vui lòng Click chuột vào hình dưới đây để coi lớn hơn)




Tin hay không tùy bạn .

Thứ Ba, 5 tháng 7, 2011

Con rươi và những điều bí ẩn

Ai cũng biết rươi là một đặc sản quý và hiếm, không phải vùng đất nào cũng có và không phải mùa nào cũng có, không phải cứ có tiền là mua được ngay. Bởi đơn giản, rươi là một sinh vật hiếm, với rất nhiều bí ẩn.
Những ai đã từng ăn rươi, từng thấy rươi (rươi sống) thậm chí như chúng tôi là những người dân địa phương từ khi sinh ra đã thấy rươi, đi vớt rươi hàng mấy chục năm nay, nhưng rươi vẫn là một ẩn số. Mỗi lần nhắc đến rươi là cả một câu chuyện dài, cả một cuộc tranh luận không lời kết, mỗi người, mỗi cách. Tất cả, chỉ dừng lại ở phỏng đoán, kinh nghiệm chứ chưa có bất cứ giải thích khoa học nào cả.
Rươi sinh sản và phát triển bí ẩn
Rươi chỉ có rải rác ở một số tỉnh địa phương đồng bằng vùng trũng, có diện tích đất ngập úng, có con nước thủy triều lên xuống của các con sông, con lạch nhỏ, nước lợ như một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ.

Ở Hà Tĩnh, rươi chỉ có ở một ít vùng gần hạ lưu sông Lam: xã Xuân Hồng, Xuân Lam, huyện Nghi Xuân. Thậm chí trong cùng một cánh đồng, vùng có rươi, vùng không; thửa ruộng có rươi, thửa ruộng lại không có.

Có những cụ già ở các địa phương sống gần hết cả đời người, đã chứng kiến không biết bao nhiêu lần rươi nổi, nhưng cũng không biết rươi sinh sản như thế nào, khi nào, sống ở đâu và ăn thức ăn gì. Cũng chưa có một nghiên cứu khoa học nào giải thích về loại sinh vật này. Chỉ biết vào những tháng mùa đông, rươi lại nổi lên mặt nước khoảng 1-2 giờ đồng hồ, rồi lại biến mất.

Rươi nổi và bơi trên mặt nước như con đỉa. Có khi nổi dày đặc, đỏ cả mặt nước.

Những người nông dân đã không biết bao nhiêu người, bao nhiêu lần xới đất sâu, tỉ mỉ ở những vùng đất có rươi nổi để tìm. Nhưng sau khi nổi và biến mất người ta không tìm thấy bất kỳ một dấu hiệu nào của rươi sót lại. Kể cả những thửa ruộng đắp bờ kín không cho nước chảy ra.

Nhiều người giải thích huyền bí cho rằng, nó sống ở tầng đất thứ 9, nhưng thân rươi lại vô cùng mềm và dễ vỡ. Chỉ cần chạm nhẹ vào thân nó, là nó có thể vỡ ra và chết. Nên rươi không thể chui nhanh xuống đất như vậy được.

Hàng năm, rươi lại càng ít dần đi. Nhưng theo kinh nghiệm của dân dịa phương, những thửa ruộng nào phun nhiều thuốc cỏ, thuốc trừ sâu thì năm sau ở thửa ruộng đó, rươi sẽ nổi ít hơn.
Rươi xuất hiện lạ lùng
Không ai biết nó sinh sản vào mùa nào, như thế nào, con nào là con đực, con nào là con cái hay là lưỡng tính. Nên cũng không ai biết khi rươi xuất hiện trên mặt nước là lúc bắt đầu hay kết thúc cuộc đời của nó. Chỉ biết rằng khi xuất hiện, nó nổi đồng loạt trên mặt nước, thấy đỏ cả mặt ruộng như ổ cá tràu con, khoảng 1-2 giờ, rồi tất cả “biến mất”. không ai biết chắc chắn nó nổi ngày nào, giờ nào.

Chỉ theo kinh nghiệm bao nhiêu năm của người dân địa phương chúng tôi, thì rươi chỉ xuất hiện vào 3 tháng là tháng 9,10,11 âm lịch hàng năm.

Rươi thường nổi nhiều vào các ngày cuối, đầu và giữa tháng như ngày 29, 30; mồng 1, mồng 2: ngày 14, 15 rằm. Các ngày khác chỉ nổi rải rác, ít và khi có, khi không.

Những ngày cuối tháng, rươi lại thường nổi vào lúc 1-2 giờ sáng; những ngày giữa tháng, ngày rằm, rươi lại thường nổi đồng loạt lúc 19-20 giờ. Các ngày khác có khi lại nổi lúc 7-8 giờ sáng. Tuy nhiên, các ngày, giờ rươi nổi cũng rất thất thường, thay đổi, không cố định. Không ai biết mà giải thích.

Nhiều khi đến ngày rươi nổi, cả xóm, làng đều ra đồng, chờ để vớt, nhưng lại không thấy. Có khi bỗng nhiên thấy rươi nổi nhiều đỏ cả đồng, cả xóm, làng lại ùn ùn kéo nhau ra đồng vớt rươi.
Cách đánh bắt độc đáo
Rươi chỉ nổi ở những cánh đồng vùng  nước lợ, có con thuỷ triều lên xuống của các con sông chảy qua các con hói, lạch vào đồng.

Vào trong cánh đồng, nó cũng chỉ có ở những vùng biển, thửa ruộng gần con nước lên xuống. Những nhà có ruộng vùng này, họ đắp bờ ruộng cao lên quá mặt nước và tháo cho nước chảy qua một chỗ, đồng thời dùng lưới nhỏ hứng rươi. Ở những vùng đất chung thì mọi người cùng nhau dùng vợt để vớt.

Ở các khúc hói, lạch, mỗi khúc một lại có một “trộ” rươi, được người ta ngăn lại đón rươi theo vùng nước. Các “trộ” rươi này được người ta thầu khoán với hợp tác xã. Thường đây là những chỗ có được nhiều rươi nhất. Sau khi đưa rươi về, ngươi ta phải chăm giữ cẩn thận trước khi nhập bán.

Rươi thích nhiệt độ lạnh từ 1-8C . Người ta phải dùng đá lạnh mới tan ra để cho rươi vào, có như vậy rươi mới sống được một thời gian vài ngày trước khi được lái buôn đưa đi để bán sang Trung Quốc.
Người dân địa phương không ai dám ăn rươi
Lúc trước rươi nhiều và rẻ. Đến mùa rươi, cả làng thơm phức mùi chả rươi. Chúng tôi, có khi ăn chả rươi cả tuần liên tục, làm thức ăn chính hàng ngày.

Gần 7-8 năm nay, rươi ít dần, giá cao vọt, dù thèm, nhưng hầu như trong làng không ai dám bỏ ra hàng trăm ngàn bỏ ra để mua rươi ăn. Những nhà đánh bắt được cũng chỉ dành bán đi lấy tiền. Chỉ cần 10kg là họ cũng đã có gần 1,5 triệu, bằng thu nhập bình thường của cả gia đình trong một tháng.
Rươi là mặt hàng xa xỉ, siêu lợi nhuận
Trước đây, rươi nhiều, chưa có người buôn bán nơi khác đến nên rươi bán rẻ. Nhưng, trong khoảng 7-8 năm trở lại đây rươi càng ngày càng ít đi, trong khi đó có các lái buôn từ Thanh Hóa vào mua để bán sang Trung Quốc nên giá rươi tăng vọt  và trở thành mặt hàng "xa xỉ” với giá 130 ngàn/1kg, có khi lên tới 160 ngàn đồng.

Trung bình các ngày nhiều rươi mỗi nhà vớt được 10-20kg, những người ít thì 4-5kg. Nhiều nhất có một số  nhà, chỉ trong một đêm (hay đúng hơn là trong khoảng 2-3 tiếng đồng hồ) vớt được 100kg rươi và tính theo giá hiện nay tương đương thu lại 13-15 triệu đồng, ít nhất mỗi nhà cũng có 200-300 ngàn đồng mỗi đêm.

Những đêm rươi nổi nhiều cũng phải đến khoảng hơn 4 tạ rươi, đem lại cho người dân khoảng gần 60 triệu đồng/đêm. Tính qua 3 tháng mùa rươi, người dân ở đây thu về hơn 600 triệu đồng.

                                                                                               Theo Nông thôn Việt Nam